KÝ ỨC MỘT THỜI
Đăng ngày 01/11/2013 bởi admin



KÝ ỨC MỘT THỜI

 

Cam Thị Phay - Nguyên Hiệu trưởng

 

         201311475257.jpg Ngày qua, tháng lại, xuân tàn, hè đến, thu sang, đông tới…Cứ thế thời gian chảy trôi không thể níu giữ, ở cái tuổi xấp xỉ lục tuần này nhiều khi tôi vẫn tự hỏi bao năm qua rồi làm gì và được gì. Câu hỏi dường như không có câu trả lời nào là đủ, là đúng, chỉ biết rằng thời gian trôi qua cái còn lại của một giáo viên nghỉ hưu như tôi là một ký ức thật đẹp về ngôi trường mang tên người anh hùng - Lương Văn Tri.

          Năm học 1972-1973, tôi học lớp 9 (là lớp 11 bây giờ) tại trường cấp 3 Văn Quan. Ngay từ đầu năm học trường sơ tán vào Nà Đải thuộc thôn Phai Cam, xã Văn An. Thầy và trò rất vất vả trong việc xây dựng trường lớp bằng tranh, tre, nứa, lá. Học được vài tuần thì có quyết định trường chia tách thành 2 địa điểm. Địa điểm 1 học tại Nà Đải, địa điểm 2 chuyển về khu Lùng Hang thuộc xã Đại An và tôi theo học tại địa điểm mới này. Việc xây dựng trường lớp bắt đầu từ con số không, bàn ghế, bảng đen được đưa từ Nà Đải sang, một số tự tạo từ cây tre, cây mai. Với chưa đầy hai tuần thầy và trò đã dựng được sáu phòng học tạm, một phòng tập thể cho các thầy, cô giáo với hầm, hào kiên cố bao quanh. Học hết học kỳ 1, Hiệp định Paris được ký kết, để việc đi lại thuận tiện hơn, thầy và trò lại tiếp tục di chuyển trường ra khu khu Đông Hảu - Nà Mò - xã Xuân Mai để học tiếp học kỳ 2 của năm học 1972-1973. Năm học 1973-1974 trường lại di dời ra gần đường quốc lộ 1B, địa điểm Kho Bạc ngày nay, và cũng năm học này trường được chính thức thành lập với tên là trường cấp 3 Lương Văn Tri, Hiệu trưởng là thầy Lê Bá Cử, quê Quảng Nam. Vậy là năm học 1973 – 1974 tôi học lớp 10 tại trường Cấp 3 Lương Văn Tri. Là năm học cuối cấp cả lớp phải ở lưu trú. Vì trường phải thay đổi địa điểm nhiều lần nên cơ sở vật chất thiếu thốn vô cùng, vừa học vừa lo tránh bom, khổ sở lắm, nhọc nhằn lắm nhưng chúng tôi vẫn đều đặn mỗi ngày đến trường để học lấy cái chữ, để xóa đi cái nạn đói, nạn dốt đang đeo đẳng lúc bấy giờ. Nhớ lại hồi đó khổ mà cũng thật vui. Nhớ lắm căn bếp tập thể đơn sơ nhưng rộn rã tiếng cười, nhớ mái nhà tranh với bao kỉ niệm vui buồn tuổi mới lớn, nhớ lớp học thân thương nơi có hình bóng của thầy cô, trang sách. Nhớ những bữa ăn đạm bạc mà thấm đượm tình người, chúng tôi chia nhau từng củ khoai, củ sắn, từng bát cháo bẹ, rau rừng. Nhớ những buổi học - học tri thức, học làm người, học để bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Nhớ những buổi tăng gia sản xuất, trồng rau, nuôi gà, bốc gạch ban đêm, mỗi người một việc, giọt mồ hôi cứ rơi mà miệng vẫn cứ cười. Nhớ dãy phản thẳng tắp, nơi chúng tôi nghỉ ngơi sau những ngày học tập và lao động sản xuất, nơi chứa đựng những giọt nước mắt bởi nhớ nhà, chứa đầy ắp tiếng cười bởi đủ trò chơi “nhất quỷ nhì ma”. Nhớ nhất trong một buổi tối tự học tôi là đứa đầu têu bầy trò trêu bạn. Mượn vội bộ quần áo bộ đội và chiếc mũ cối của một bạn nam, tôi khoác lên mình trông y chang một anh lính trẻ đến thăm bạn gái. Lũ bạn bắt đầu phao tin “Chúng mày ơi! Ra xem mặt người yêu cái Đẹp này”, thế là ngay tức khắc cả dãy nhà đổ xô ra chỉ trỏ, ngắm nhìn, bàn tán về người yêu của cái Đẹp-đứa bạn cùng lớp. Cuối cùng tôi và lũ bạn được một trận cười sảng khoái nhưng cũng lại nhận một hình phạt nhớ đời từ thầy chủ nhiệm và thầy Hiệu trưởng. Hay có một lần, thầy Cử - Hiệu trưởng nhà trường tìm tôi để yêu cầu tôi đi thi học sinh giỏi môn toán. Nhưng tôi không có tên trong danh sách, tôi vội trốn vào nhà tắm, nấp mãi trong đó cho đến khi nghe thấy tiếng thầy quát: “Cô Phay! cô có biết kỉ luật nhà trường là như thế nào không?”. Tôi lầm lũi, cúi mặt đi ra, sợ rằng thầy sẽ trách phạt nhưng không một lời quở mắng, thầy nhẹ nhàng động viên khiến tôi tự tin tham gia kỳ thi. Kể từ đó hơn cả sợ thầy tôi nể trọng thầy. Tôi thấy đằng sau sự nghiêm khắc là ánh mắt trìu mến, tin tưởng của thầy dành cho học sinh. Tôi vẫn nhớ thầy là người mỗi buổi sáng đến từng phòng đánh thức chúng tôi dậy để tập thể dục, là người luôn quan tâm sát sao đến việc học tập cũng như nơi ăn, chốn ở của chúng tôi, hơn cả người thầy, thầy là người cha. Và cũng từ những ân tình đó của thầy dành cho học sinh trong trường mà không biết từ khi nào tôi ước được như thầy, được đứng trên bục giảng, được dạy học sinh của tôi như thầy đang chỉ bảo chúng tôi bây giờ.

Theo đuổi ước mơ đó, tôi trở thành cô sinh viên trường sư phạm, quyết tâm học tập thật tốt để trở thành một giáo viên đem kiến thức về quê hương để truyền thụ cho lớp lớp học trò. Năm 1979 tôi về lại trường THPT Lương Văn Tri nơi tôi từng là một cô học trò và giờ là một cô giáo. Một cương vị khác, một nhiệm vụ khác nhưng dường như cảm xúc trong tôi vẫn vậy, vẫn thấy gần gũi, thân thuộc như ngày nào. Ngôi trường vẫn thế, vẫn đơn sơ mộc mạc như xưa có khác chăng chỉ là số lượng giáo viên và học sinh đã đông hơn trước, một số thầy, cô giáo của tôi đã chuyển trường như thầy Cử - Hiệu trưởng về Quảng Nam, thầy Vũ Hiền- về Hà Bắc. Vừa nhận công tác chưa kịp làm quen với học sinh, nhà trường lại được lệnh phải sơ tán lên Lùng Giảo, thôn Bản Sầm, xã Bình Phúc do tình hình biên giới căng thẳng. Địa điểm mới ngôi trường lại phải xây dựng lại từ đầu, ngày hai buổi với tinh thần lao động khẩn trương, chỉ hơn một tuần mười lăm phòng học tạm đã được dựng lên, rồi vừa học, vừa dựng nhà tập thể giáo viên, nhà kho, nhà họp hội đồng… Vất vả là vậy nhưng thầy và trò nhà trường vẫn giữ vững tinh thần lạc quan, khẩu hiệu “thầy dạy tốt –t rò học tốt” vẫn được chăng lên trước cửa mỗi lớp học. Học được một năm ở Bản Sầm, nhà trường lại di dời về Bản Coóng, xã Xuân Mai và học ở đây được hai năm. Năm học 1982-1983 trường lại di chuyển về địa điểm mà trường đang đóng bây giờ, nay gọi là phố Đức Tâm 2 -Thị trấn Văn Quan.

Cứ thế tôi gắn bó với mái trường này trong suốt 31 năm tuổi nghề. Tôi đã chứng kiến biết bao sự đổi thay. Từ những ngôi nhà vách tạm bợ, trường học đã được xây dựng khang trang, điều kiện cơ sở vật chất được cải thiện hơn rất nhiều. Số lượng và chất lượng giáo dục không ngừng phát triển. Cuộc sống của giáo viên tuy vẫn bị đè nặng bởi cơm áo gạo tiền nhưng cũng đã bớt phần nào sự nghèo túng. Tôi đã nỗ lực không ngừng cho công việc giảng dạy của mình, đến năm 2003 tôi được giao nhiệm vụ mới là Phó hiệu trưởng, rồi đến năm 2005 là Hiệu trưởng. Trách nhiệm đối với tôi thật nặng nề, tôi đã rất lo không biết mình sẽ xoay sở ra sao để đưa chất lượng giáo dục của nhà trường đi lên. Khó khăn nào rồi cũng vượt qua, cùng với tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường, với sự tin cậy của phụ huynh và học sinh. Chúng tôi đã từng bước đưa chất lượng giáo dục nhà trường đi lên, bắt đầu có học sinh thi đỗ vào các trường đại học, có học sinh đạt giải các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, có các thầy cô giáo đạt giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, số lượng tăng dần theo từng năm học. Dấu ấn về trường THPT Lương Văn Tri yếu kém dần được xóa đi trong tiềm thức của mọi người, thay vào đó là một trường THPT Lương Văn Tri đang tự khẳng định mình về chất lượng giáo dục toàn diện.

Thời gian trôi qua, thoáng chốc tôi đã đến tuổi nghỉ hưu. Cảm xúc lẫn lộn, vui có, buồn có và hơn hết là tiếc nuối.

“Đưa em, thời gian trôi qua mau

Em đi! Hoàng hôn tôi ở lại,

Chiều nhạt nắng, “mặt trời” vẫn đẹp

Sao nghe lòng gợn chút lao xao!

Những năm tháng trong nghề, kỷ niệm về các thế hệ học sinh luôn đầy ắp và đậm nét trong ký ức tôi. Học sinh tôi đã trưởng thành, làm nhiều nghề, ở nhiều nơi. Theo thời gian, tôi làm người lái đò đưa khách sang sông. Khách qua đò thỉnh thoảng có dịp về thăm. Chúng tôi ôn lại kỉ niệm xưa, tôi muốn các em hiểu rằng: Ngôi trường này là một mái ấm gia đình và các em là những người con luôn được yêu thương, dìu dắt, ở đây tình thầy trò luôn được đong đầy. Đó là thứ tình cảm thiêng liêng đã, đang và mãi tồn tại. Hạnh phúc của tôi chính là được sống, học tập, làm việc và cống hiến cho ngôi trường này. Và hạnh phúc của tôi mãi còn khi giờ đây vẫn được nhìn thấy trường lớp phát triển từng ngày, học sinh tiến bộ hàng năm. Tôi thấy ấm áp, thiêng liêng khi đã về hưu mà vẫn nhận được những tiếng thân thuộc “em chào cô!”

Năm mươi lăm tuổi đời, ba mươi mốt năm tuổi nghề, cũng đến lúc tôi phải chia tay bục giảng, tạm biệt học trò, đồng nghiệp thân yêu. Quá khứ là lịch sử, tương lai là một nhiệm màu, còn hiện tại là hành động. Trường học giờ đây đã có những bước tiến vượt bậc, tỉ lệ học sinh khá, giỏi không ngừng tăng lên, và rất nhiều học sinh đỗ đại học. Tôi mong rằng thầy và trò trường Lương Văn Tri sẽ phát huy được những thành tích đã đạt được và ngày càng làm rạng danh mái trường này. Tôi muốn nhắn nhủ đến những đồng nghiệp của mình: Nghề nghiệp trong cuộc đời không phải là một đường chạy mà là một lộ trình mà ta thưởng thức từng chặng đường mình đã đi qua. Và ta phải luôn nỗ lực đi tiếp đoạn đường còn lại bằng cả tấm lòng của một nhà giáo làm sao cho xứng đáng với hai tiếng “cô, thầy”.

 

Văn Quan,  năm 2013







Các tin bài khác


1